Giống lúa J02
Hỗ trợ trực tuyến
Tell: (84) 02103.970.258
Hotline: 0913.282.306
Ngọc Hưng
Hỗ trợ khách hàng
Hỗ trợ kỹ thuật
Đỗ Hùng Mạnh
Ngọc Hưng
 
Đăng ký nhận bản tin định kỳ
 
Để nhận bản tin định kỳ, quý khách vui lòng nhập địa chỉ email của mình vào ô bên dưới và gửi về cho chúng tôi.
Thống kế truy cập
Đang Online:
2
Tổng truy cập
255665
Trang chủ > Tin tức > Tin tức và Kết quả Nghiên cứu KH
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHÂN BÓN LÁ PHỨC HỮU CƠ POMIOR TRONG SẢN XUẤT CHÈ BÚP NGUYÊN LIỆU
Ngày đăng: 09/06/2012- Lượt xem: 3878
Tỉnh Phú thọ đứng thứ 3 sản lượng và thứ 4 về diện tích sản xuất chè nguyên liệu so với cả nước. Nắng suất chè búp tươi bình quân trong tỉnh là 7,1 T/1ha trong khi bình quân chung cả nước mới đạt 6,8 T/1ha. Phú thọ có sản phẩm chè chế biến xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới: Ấn độ, Đức, Anh, Pakistan, Nhật, Mỹ, Hà lan. Hệ thống thiết bị sản xuất chế biến chè đen xuất khẩu đứng hàng đầu so với các vùng sản xuất khác trong cả nước. Hiện còn nhiều diện tích chè không được bón phân hữu cơ hoặc có bón rất ít, dẫn đến tình trạng năng suất thấp, chất lượng chè nguyên liệu kém, sâu bệnh phát triển đến mức khó kiểm soát. Phân bón lá phức hữu cơ Pomior P198 (EDTA – Amino acid chelated) là sản phẩm của dự án “Hoàn thiện quy trình sản xuất phân bón lá phức hữu cơ Pomior nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm một số cây trồng “.Mã số: KC07-DA14.06/10 thuộc chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006-2010, chương trình “Nghiên cứu, ứng dụng khoa học

NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG PHÂN BÓN LÁ PHỨC HỮU CƠ POMIOR

TRONG SẢN XUẤT CHÈ BÚP NGUYÊN LIỆU


                                                   PGS TS  Hoàng Ngọc Thuận

                                                   Hội các nghành sinh học Việt Nam ĐHNN Hà Nội

                                                   Công ty cố phần giống , vật tư NN công nghệ cao Việt Nam

                                                    Điện thoai :04 38276523 ;  0210 3970405 Mobile 0913082483

                                                   Email  hoangthuan205@yahoo.com

Tóm tắt

       Tỉnh Phú thọ đứng thứ 3 sản lượng và thứ 4 về diện tích sản xuất chè nguyên liệu so với cả nước. Nắng suất chè búp tươi bình quân trong tỉnh là 7,1 T/1ha trong khi bình quân chung cả nước mới đạt 6,8 T/1ha. Phú thọ có sản phẩm chè chế biến xuất khẩu sang nhiều nước trên thế giới: Ấn độ, Đức, Anh, Pakistan, Nhật, Mỹ, Hà lan. Hệ thống thiết bị sản xuất chế biến chè đen xuất khẩu đứng hàng đầu so với các vùng sản xuất khác trong cả nước. Hiện còn nhiều diện tích chè không được bón phân hữu cơ hoặc có bón rất ít, dẫn đến tình trạng năng suất thấp, chất lượng chè nguyên liệu kém, sâu bệnh phát triển đến mức khó kiểm soát.

       Phân bón lá phức hữu cơ Pomior P198 (EDTA – Amino acid chelated) là sản phẩm của dự án “Hoàn thiện quy trình sản xuất phân bón lá phức hữu cơ Pomior nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm một số cây trồng “.Mã số: KC07-DA14.06/10 thuộc chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006-2010, chương trình “Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn “Mã số KC07-06/10 do Trung tâm giống cây trồng Phú thọ trước đây, ngày nay là Công ty cổ phần giống - vật tư nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam chủ trì và thực hiện;

       Năm 2009- 2010 đã phun thử nghiệm phân bón lá Pomior P198 trên các giống chè LDP1, chè Kim tuyên và TB14 ở xã Ngọc Đồng huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ, và Trung tâm nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật sản xuất cây ăn quả, cây công nghiệp Sở NN&PTNT tỉnh Lâm Đồng nhằm ứng dụng loại phân bón lá này trong việc nâng cao năng suất và chất lượng chè nguyên liệu và chè thành phẩm.

      Kết quả cho thấy khi phun Pomior P198 cho các giống chè kể trên sau mỗi lứa hái, với nồng độ 0,3%, đã làm tăng năng suất chè búp tươi từ 29-31%, với năng suất trung bình là 13-15 Tấn /1ha. Hàm lượng các chất tanin, chất hòa tan đề tăng cao hơn đối chứng; hàm lượng NO-3 giảm thấp hơn đối chứng. Mức lãi thuần do phun Pomior có thể đạt tới 90tr đồng /1ha năm trên mô hình sản xuất chè an toàn ở Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng. Đối với mô hình sản xuất 200ha chè ở xã Ngọc Đồng tỉnh Phú Thọ, cũng đạt được hiệu quả kinh tế cao.

Summary

Phutho province ranks the 3rd of production and the 4th in areas of tea compared to the country. The average yield in the tea fresh leaves is 7.1 tons per hectare, while the average country achieve 6.8 tons/ha. Phutho is the product of tea processing and export to many countries around the world: India, Pakistan, Japan, Germany, Britain, the US and the Netherlands. The system of production equipment and processing black tea exports topped compared to other production areas in the country. There remains an area of ​​tea not have fertilizer or organic fertilizer is very low, leading to low productivity, poor quality tea materials, to develop the disease difficult to control.


Complex organic leaf fertilizer Pomior P198 (EDTA-Amino acid chelated) is the product of the project "Improving production process of complex organic leaf fertilizer Pomior to raise the productivity and quality of products a few crops". Code: KC07-DA14.06/10 of science and technology program for the National key period 2006-2010; and the program "Research and application of science and technology for industrialization, agricultural modernization rural industry" by Phutho cultivars Center previously, is now the Vietnam high technology seed and material agricultural join stock company hosted and implemented;

Years 2009-2010, the Pomior P198 were sprayed testing on tea varieties of LDP1, Kim tuyen and TB14 in Ngocdong - Yenlap district, Phutho province; and research centers and transfer production techniques of fruit trees industrial plants DARD Lamdong province in order to apply this type of fertilizer in improving productivity and quality of raw material tea and tea products.

The results showed that spraying P198 Pomior to those of tea varieties above for each litter picking, with a concentration of 0.3%, has increased the productivity of tea leaves from 29-31%, with average yield is 13-15 tonnes / ha. Levels of tannins, solvents were higher than controls; NO-3 concentration is lower than the control. Net interest rate can be achieved by spraying Pomior to 90 million dong / ha in the model safe tea production in Baoloc, Lamdong province. For model 200ha in Ngocdong - Yenlap district, Phutho province has also achieved high economic efficiency similar.

 

                                                            Nội dung

1. ĐẶT VẤN ĐỀ.

Cây chè chiếm vị trí đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh Phú thọ; vởi tổng diện tích 16 ngàn ha sản lượng chè búp tươi là 115, 4 ngàn tấn (Số liệu báo điện tử Nông Nghiệp Việt Nam ngày 28/03/2012) trong tổng diện tích chè cả nước là 130.000 ha; Sản lượng năm 2011 đạt 888 ngàn tấn. Tỉnh Phú thọ đứng thứ 3 sản lượng và thứ 4 về diện tích so với cả nước. Nắng suất chè búp tươi bình quân trong tỉnh là 7,1 T/1ha trong khi bình quân chung cả nước mới đạt 6,8 T/1ha. Phú thọ có sản phẩm chè chế biến xuất khẩu sang nhiều trên thế giới: Ấn độ, Đức, Anh, Pakistan , Nhật, Mỹ, Hà lan. Hệ thống thiết bị sản xuất chế biến chè đen xuất khẩu đứng hàng đầu so với các vùng sản xuất khác trong cả nước [1]. Tuy nhiên trong những năm gần đây, một số địa phương trong tỉnh còn nhiều diện tích chè già cỗi chưa được phục hồi; nhiều địa phương chỉ dùng phân vô cơ để bón cho cây chè, vì diện tích chè quá lớn, không thể có đủ phân cữu cơ; việc vận chuyển phân bón lên đồi cho một diện tích lớn cũng là điều nan giải trong trong thâm canh. Tất cả những vấn đề trên , dẫn đến các nương chè già cỗi không thể hồi phục, những diện tích mới trồng cũng không thể sinh trưởng, phát triển tốt; tình trạng sâu bệnh phát triển tới mức khó kiểm soát; năng suất thấp và chất lượng không cao, khó đạt được tiêu chuẩn chất lượng chè an toàn, việc sản xuất chè nguyên liệu không bền vững khó tránh khỏi; việc mở rộng vùng sản xuất theo tiêu chuẩn VGAP sẽ rất khó khăn. [1]

Phân bón đóng vai trò quan trọng bậc nhất trong thâm canh tăng năng suất cây trồng và chất lượng sản phẩm (Theo Fao là 65% năng suất, còn lại là giống và các yếu tố khác) [4]. Sản xuất nông nghiệp ngày càng mang tính công nghiệp cao, cơ giới hóa, điện khí hóa, hóa học hóa, và công nghệ sinh học thực vật, đòi hỏi phải có những kỹ thuật canh tác mới phù hợp. Ngày nay phân bón qua lá đã được ứng dụng rộng rãi ở hầu hết các nước trên thế giới cả ở các nước có nền nông nghiệp phát triển và đang phát triển. Phân bón lá phức hữu cơ (EDTA –Aminoacid – Chelate) là loại phân bón cao cấp, có độ tinh khiết cao, ngày càng đóng vai trò quan trọng trong công nghệ sinh học thực vật và trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao [4] .

Trong khuôn khổ của dự án khoa học công nghệ “Hoàn thiện quy trình sản xuất phân bón lá phức hữu cơ Pomior nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm một số cây trồng “.Mã số: KC07-DA14.06/10 thuộc chương trình khoa học công nghệ trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006-2010, chương trình “Nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn “Mã số KC07-06/10 do Trung tâm giống cây trồng Phú thọ trước đây, ngày nay là Công ty cổ phần giống - vật tư nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam chủ trì và thực hiện; chúng tôi đã bố trí nghiên cứu xây dựng các mô hình ứng dụng loại phân bón lá cao cấp này trên nhiều đối tượng cây trồng, thuộc nhiều vùng sinh thái trong cả nước. Sau  đây chúng tôi xin trình bày các kết quả nghiên cứu trên cây chè ở Phú -Thọ.

Các kết quả nghiên cứu được ,đã được ứng dụng xây dựng mô hình sản xuất chè an toàn ở Lâm Đồng và xã ngọc Đồng huyện Yên Lập tỉnh Phú Thọ.

2.Tổng quan tài liệu.

Hiện trên thị trường Việt Nam có hàng nghìn loại phân bón lá, đa số nhập khẩu từ nước ngoài; một số sản xuất trong nước. Trong đó có rất nhiều loại có chất lượng kém [4]. Công ty cổ phần giống - vật tư nông nghiệp công nghệ cao Việt Nam là một trong những cơ sở đầu tiên ở nước ta sản xuất được loại phân phức hữu cơ (EDTA- Aminoacid Chelated) đi từ acid amin tự chế tạo vơi thành phân acid amin rất phong phú và tỷ lệ acid amin cao [2]. Pomior là tên thương mại của loại phân bón lá này (Polymicroelements  Organic). Pomior có 3 loại P198; P298; P399, khác nhau về thành phần dinh dưỡng cơ bản [2] [4]. Phân bón lá Pomior trong những năm qua đã góp phần tăng năng suất lúa, ngô, khoai tây; đậu tương, nhãn vải rau an toàn, hoa, hoa lan;  cà phê ở Phú thọ, Đắc Lăk, Lâm đồng, Đà  Lạt; Quảng ninh, Yên Bái, Bắc giang, Bắc ninh, Long an, Sơn La, Hà nội  lên tới 11-20% [3] [4]và đã góp phần tăng thu nhập cho các hộ nông dân của các tỉnh trên nhiều chục tỷ đồng, trong những điều kiện khó khăn của thời tiết biến đổi. [4]

Thành phần dinh dưỡng loại phân bón lá Pomior P198 như sau: N10,75 %; P205- 5,50 %; K2O 4,80%; CaO 0,04%; Mg++  540,0 mg/l; Cu++ 163,0 mg/l; FeO 322,0 mg/l; Zn+ 236,0 mg/l; Mn++ 163,0; B3+ 84,0 mg/l; Ni++  78,4; Mo++ 3,0 mg/l; Chất điều tiết sinh trưởng 0,14%; Acid  amin340 mg/l ;[2][4].  Phân Pomior P198 có tác dụng giúp cho cây trồng hấp thu nhanh và kịp thời (tốc độ nhanh gấp 8-20 lần hình thức hấp thu chất dinh dưỡng qua rễ) [3] [4].                                                                                                                                                                                                                        

2. Mục đích yêu cầu của đề tài :

  • Xác định được nồng độ và số lần phun phân bón lá Pomior thích hợp cho cây chè.
  • Xác định được ảnh hưởng của phân bón lá Pomior đối với năng suất và chất lượng chè búp nguyên liệu để sản xuất chè xanh và chè đen, làm cơ sở xây dựng mô hình thâm canh chè, sản xuất chố an toàn với việc sử dụng phân bón lá phức hữu cơ Pomior.

3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu.

3.1. Địa điểm nghiên cứu.

  • Địa điểm thí nghiệm: Xã Ngọc Đồng - Huyện Yên Lập, tỉnh Phú Thọ. Ngọc Đồng là xã miến núi của tỉnh Phú Thọ, cách trung tâm Huyện…24km về phía đông nam theo đường tỉnh lộ 313.
  • Điều kiện thời tiết: nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Tổng nhiệt lượng hữu hiệu hàng năm từ 8500o C – 8600o C có hai mùa rõ rệt: mùa nóng từ tháng 5 - 10, nhiệt độ cao nhất là tháng 6 - 7 (nhiệt độ trung bình là 38o C). Mùa lạnh, khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau nhiệt độ trung bình là 16o C. Lượng mưa trong năm từ 1800 - 2100 mm.

Toàn xã có hơn 300ha chè nguyên liệu. Trong đó 120ha của các hộ nông dân, công ty chè Phú Thọ có 180ha. Đất feralit đỏ, vàng có độ dốc từ 5o- 20o. 70% diện tích đất đai trong xã thích hợp cho việc phát triển trồng chè.

  • Đối tượng thí nghiệm: Giống chè LDP1 6 năm tuổi. Trồng tại khu 4 xã Ngọc Đồng huyện Yên lập tỉnh Phú thọ.
  • Thời gian thí nghiệm từ tháng 7 đến tháng 10 năm 2009 và năm 2010. 

3.2. Nội dung nghiên cứu

  • Xác định nồng độ dung dịch phân bón lá Pomior P1-98 phun cho chè nguyên liệu.
  • Thời gian và số lần phun thích hợp.
  • Thí nghiệm gồm 4 công thức sau:

I  . Pomior 0,1%

II . Pomior 0,2%

III. Pomior 0,3%

IV. Đối chứng không phun.

Phun 10 ngày 1 lần, sau mỗi lứa thu hoạch.

Nền : NPK 5-10-3 thúc 2lần vụ thu và vụ hè.

Các công thức thí nghiệm được bố trí theo sơ đồ khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCB) 3 lần nhắc lại.

Diện tích thí nghiệm 10m2/ô x 12 ô = 120 m2

Hàng bảo vệ là các hàng ngoài ô thí nghiệm.

4. Các chỉ tiêu nghiên cứu. 

  • Sinh trưởng cây chè trước và sau khi thí nghiệm.
  • Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất (số búp chè/ cây, khối lượng búp- gram).
  • Chiều dài búp (búp tiêu chuẩn 1 tôm 2 lá).
  • Rầy xanh (Sâu hại)
  • Bọ cánh tơ (Sâu hại)

Tỷ lệ búp hị hại

=

   Số búp bị hại

x

100

100 búp điều tra

 

  • Chất lượng búp tính bằng số búp mù/ tổng số búp theo dõi.

5. Kết quả nghiên cứu và thảo luận.

 5.1. Sinh trưởng của cây chè LDP1 sau thí nghiệm.

Bảng 1: Ảnh hưởng của nồng độ Pomior đến sinh trưởng cây chè LDP1 ở xã Ngọc Đồng.

   Chỉ tiêu

 

 

 

Công

thức

Chiều cao cây

đường kính thân

đường kính tán

Tổng số cành có búp

Cm

% so với đối chứng

cm

% so với đối chứng

Cm

% so với đối chứng

cm

% so với đối chứng

I

66.5

102.5

3.20

103.8

88.8

105.8

1.616

109.2

II

66.2

102.4

3.20

102.9

88.2

104.6

1.758

119.5

III

66.5

102.8

3.23

104.2

89.0

106.8

1.773

120.6

IV

64.8

100.0

3.08

100

82.7

100

1.488

100

CV %

1.1

 

2.4

 

 

 

1.8

 

LSD

1.19

 

0.15

 

 

 

55.6

 

 

Các chỉ tiêu chiều cao cây, đường kính cây không có sự chênh lệch rõ  rệt giữa các công thức.

Đường kính tán cây thể hiện rõ tác động của phân bón Pomior P198. Các công thức phun Pomior tăng đường kính tán so với đối chứng không phun ở mức có ý nghĩa.

Số cành mang búp có sự sai khác rất rõ rệt ở các công thức có phun Pomior so với đối chứng không phun. Công thức III nồng độ Pomior 0,3% có số lượng búp tăng mạnh nhất so với đối chứng và so với các công thức còn lại.

Giữa công thức I (0.1%) và công thức II (0.2%) cũng có sự sai khác rõ rệt ở mức chính xác 95%. (147 cành mang búp/ 10 m2, LSD = 60.63)

Bảng 2: Ảnh hưởng của nồng độ Pomior đến chất lượng búp chè nguyên liệu  LDP1.

     Chỉ

       Tiêu

Công

Thức                                                         

           Dài búp

Đường kính búp

Khối lượng búp

Chiều dài

% so với đối chứng

đường kính

% so với đối chứng

Gam

% so với đối chứng

I

8.1

117.8

0.25

113.5

0.72

106.2

II

8.4

121.8

0.26

118.2

0.76

108.8

III

8.6

124.5

0.28

122.8

0.76

111.2

IV

6.8

100

0.22

100

0.68

100

CV %

1.3

 

1.9

 

0.61

 

LSD

0.20

 

0.9

 

0.84

 

 

Bảng 3: Ảnh hưởng của nồng độ Pomior P198 đến năng suất chè búp nguyên liệu LDP1.

       Chỉ

         tiêu

 

Công

 Thức

Năng suất các lứa hái kg/10m2

Tổng năng suất trong thời gian TN kg/10m2

Năng suất lí thuyết Tạ/ha

Lứa 1

Lứa 2

Lứa 3

I

4,26

4,98

5,26

14,50

150,0

II

4,45

5,28

5,38

15,12

151,1

III

4,56

5,34

5,39

15,28

152,8

IV

3,18

3,86

3,96

11,62

116,2

CV%

4,6

4,8

5,1

-

-

LSD 0,05

0,4

0,5

0,6

-

-

 

Công thức có phun Pomior nồng độ (0,1 ; 0,2 ; 0,3%) đã tăng năng suất so với đối chứng không phun ở mức sai khác có ý nghĩa (LSD 0,05) ở các lứa hái 1, 2 và 3 sự chênh lệch năng suất giữa công thức II và III là không đáng kể. Những công thức có phun pomior các chỉ tiêu chất lượng (Khối lượng búp ; tỷ lệ búp chè thành phẩm), đều cao hơn so với công thức đối chứng không phun Pomior, trong đó công thức phun ở mức nồng độ 0,3% cho kết quả tốt hơn cả.

Năng suất thực thu trong toàn vụ thí nghiệm tăng năng suất do phun Pomior đạt mức 25% - 31% so với đối chứng không phun.

Năng suất lí thuyết đạt từ 150 tạ chè búp tươi/ ha đến 152,8 tạ/ ha so với đối chứng không phun tăng năng suất từ 21% - 29%.

Bảng 4: Ảnh hưởng của nồng độ Pomior P198 đến số lượng búp mù trên g chè LDP1.

         Chỉ

            Tiêu

 

Công thức

Sự hình thành búp mù và búp chè thành phẩm

% so với đối chứng

Số búp thí nghiệm

Số búp mù

Số búp thành phẩm

% búp mù

I

200

16

185

8,2

72,9

II

200

13

188

6,6

59,5

III

200

8

195

4,1

36,6

IV

200

22

179

11,2

100

  

Như vậy ở các công thức phun Pomior từ nồng độ 0,1 – 0,3 có số lượng và tỉ lệ búp mù so với tổng số búp thu hoạch giảm nhiều so với đối chứng. Nghĩa là Pomior đã làm tăng chất lượng và số lượng búp chè nguyên liệu. Tương tự như vậy đối với các đối tượng gây hại như bọ xít và bọ cánh tơ cũng giảm một cách đáng kể. Pomior đã thúc đẩy sinh trưởng của chè búp và làm tăng năng suất, chất lượng chè nguyên liệu ở mức có ý nghĩa.

Kết quả thí nghiệm trên đã được ứng dụng vào việc xây dựng mô hình chè nguyên liệu năng suất cao và chất lượng tốt ở xã Ngọc Đồng  năm 2009-2010 và ở Thành phố Bảo Lộc tỉnh Lâm Đồng năm 2010.

- Xã Ngọc Đồng: Tổng mức lãi thu được từ việc phun Pomior cho 200ha chè trong 3 tháng làm mô hình là 357.000.000đ. chi phí phân bón lá và công phun là 144.000.000đ. Tổng lãi thuần thu được là: 213.000.000đ. Bình quân 1 hộ dân thu được 2.366.666đ trong thời gian 3 tháng tham gia xây dựng mô hình. [4]  

- Mô hình chè an toàn do trung tâm nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật sản xuất cây ăn quả, cây công nghiệp sở NN&PTNT tỉnh Lâm Đồng thành phố Bảo Lộc thực hiện, kết quả như sau:

- Phun Pomior 0,3% trên giống chè Kim tuyên và TB14 10 ngày 1 lần sau mỗi lứa hái. Năng suất trung bình 1 lứa hái thu được 1,5 năng suất cả năm 15 Tấn che nguyên liệu /1ha; tăng cao hơn đối chứng 4,5T/1ha. Tổng mức lãi tăng do phun Pomior là 112.000.000đ/1ha/năm (giá bán chè nguyên liệu an toàn là 25000đ/1kg). Tổng chi phí mua phân bón lá và công phun cho 1 ha 10 lần phun là 20.000.000đ/1ha/năm. Tổng lợi nhuận  thu được do phun Pomior là 92.000.000 đ/1ha/năm. [4]

Kết quả phân tích phẩm chất chè nguyên liệu cho thấy: khi phun Pomior nồng độ các chất tanin = 22% so với đối chứng không phun là 16%; chất hoa tan là 48% so với đối chứng không phun là 45%; hàm lượng NO-3 = 15,5%, so với đối chứng là 16,2%. Pomior không những đã nâng cao năng suất chè an toàn mà còn góp phần tăng chất lượng chè thành phẩm một cách rõ rệt .hiệu quả kinh tế do phun phân bón lá Pomior trên mô hình sản xuất chè an toàn đạt mức cao[4].

6. Kết luận và đề nghị

1. Phun phân bón lá Pomior (dạng phức hữu cơ) ở các nồng độ 0,1; 0,2 và 0,3% có thể làm tăng năng suất chè búp nguyên liệu từ 21 - 29%, giảm tỉ lệ sâu bệnh hại và giảm số lượng búp mù tăng chất lượng chè nguyên liệu.

2. Áp dụng nồng độ phun Pomior trong các mô hình thâm canh chè an toàn ở Ngọc Đồng Yên Lập Phú thọ và ở Thành phố Bảo lộc tỉnh Lâm đồng đều cho mức tăng năng suất và chất lượng chè nguyên liệu, chè thành phẩm cao. Mức lãi thuần đạt được cao hơn trên mô hình chè an toàn ở Bảo Lộc tới 92.000.000 đ/1ha năm.

 3. Đề nghị: Kính đề nghị Trung tâm khuyến nông quốc gia, cơ quan khuyến nông các tỉnh và  thành phố những vùng trồng chè trong cả nước khuyến cáo việc ứng dụng phân bón lá Pomior P198 rộng rãi trong việc nâng cao năng suất và chất lượng chè nguyên liệu như sau:

    -Bón thúc NPK 5-10-3 với mức 1000 kg/ ha bón 2 lần: 1 lần vụ xuân, 1 lần vụ hè  thu.

    -Phun Pomior 10ngày 1 lần sau mỗi lứa hỏi; nồng độ 0,3% (pha 30 ml Pomior trong 10 lit nước sạch)  phun ướt toàn cây (đối với các nương chè thu hoạch bằng tay)

    - Phun 15 ngày 1 lần đối với các nương chè thu hoạch bằng máy

 

Tài liệu tham khảo.

 

1.      Báo Phú Thọ Oline – Phát triển và xây dựng thương hiệu chè Phú Thọ 03/2012.

2.      Hoàng Ngọc Thuận. Tes production of Amino acid from protein – rich Wastes used in production cycle of Pomior chelated organic foliar fertilize (EDTA –Amino acid Chelated) – International workshop on Agricultural and Bio-Systems Engineering. Agricultural Publising Hous . Ha Noi 2009.

3.      Hoàng Ngọc Thuận. Hoàn thiện công nghệ và thiết bị sản xuất phân bón lá dạng phức hữu cơ Pomior và ứng dụng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng một số cây trồng (KC07.DA14/06-10. Kỷ yếu hội nghị tổng  kết chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2006-2010 “Nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn “Mã số KC.07/06-10. Hà Nội tháng 4/2011. 

4.      Hoàng Ngọc Thuận. Báo cáo tổng hợp “Kết quả khoa học công nghệ dự án Hoàn thiện công nghệ và thiết bị sản xuất phân bón lá dạng phức hữu cơ Pomior và ứng dụng nhằm nâng cao năng suất, chất lượng một số cây trồng (KC07.DA14/06-10). Phú thọ 2011. 


    

 

Tin cùng danh mục: