Giống lúa J02
Hỗ trợ trực tuyến
Tell: (84) 02103.970.258
Hotline: 0913.282.306
Ngọc Hưng
Hỗ trợ khách hàng
Hỗ trợ kỹ thuật
Đỗ Hùng Mạnh
Ngọc Hưng
 
Đăng ký nhận bản tin định kỳ
 
Để nhận bản tin định kỳ, quý khách vui lòng nhập địa chỉ email của mình vào ô bên dưới và gửi về cho chúng tôi.
Thống kế truy cập
Đang Online:
1
Tổng truy cập
255641
Trang chủ > Tin tức > Tin tức mới
Tuần tin khoa học 478 (09-15/05/2016)
Ngày đăng: 09/05/2016- Lượt xem: 259
Tin khoa học mới được cật nhật trong tuần này, các nghien cứu mới nhất cho ngàng nông nghiệp

Bt toxin không gây ảnh hưởng đến sự sống, khả năng tiêu hóa hạt phấn hoặc khả năng học hỏi của ong mật

 


Các nhà khoa học thuộc Viện Hàn Lâm Khoa Học Nông Nghiệp Trung Quốc (CAAS) đã công bố trên tạp chíEconomic Entomology rằng độc tố Cry1Ie không gây ảnh hưởng đến sự sống, khả năng tiêu hóa hạt phấn và khả năng học hỏi của loài ong mật, một côn trùng không chủ đích của cây trồng chuyển gen Bt. Tại CAAS, Ping-Li Daivà ctv. đã tiến hành một nghiên cứu trong điều kiện phòng thí nghiệm có kiểm soát tốt. Các con ong thợ được thả vô những nghiệm thức khác nhau về nồng độ của độc tố Cry1Ie (20, 200, hoặc 20.000 ng/ml). Là đối chứng dương, một vài con ong được phơi nhiễm trong điều kiện nghiệm thức ở liều lượng dưới ngưỡng gây chết của imidacloprid, một thứ neurotoxin đối với côn trùng. Kết quả cho thấy độc tố Cry1Ie không tỏ ra một chút rủi ro nào cho sự sống, khả năng tiêu hóa hạt phấn và khả năng học hỏi của loài ong mật. Mặt khác, ong mật khi phơi nhiễm trong điều kiện có imidacloprid biểu hiện ra những thay đổi về tập tính  cũng như khả năng tiêu hóa hạt phấn khi so sánh với các nhóm Cry1Ie.

Biểu hiện mạnh mẽ gen AtGchI làm gia tăng các tiền chất folate trong hạt đậu co ve

 


Phương pháp “biofortification” đối với folate lấy từ nguồn thực phẩm của cây trồng tỏ ra rất có triển vọng để chống lại bệnh thiếu vitamin. Naty G. Ramírez Rivera và cộng sự của cô thuộc Escuela de Ingeniería y Ciencias, Mexico thực hiện một nghiện nhằm mục đích cải thiện hấp thu folate, được biết với tên gọi vitamin B9, ở nồng độ khác nhau trong giống đậu cô ve (Phaseolus vulgaris L.) bằng kỹ thuật di truyền theo lộ trình tạo ra pteridine, một tiền chất của folate. Gen GTP cyclohydrolase I (AtGchI) của cây mô hình Arabidopsis thaliana được phân lập và biểu hiện trong ba giống đậu cô ve. Sự biểu hiện mạnh mẽ gen AtGCHI rất đặc hiệu trong hạt đậu đã gây ra hiệu ứng tăng cường đáng kể hàm lượng pteridines trong các dòng con transgenic. Hàm lượng pteridine này tăng sẽ cho kết quả có nhiều folate hơn trong hạt đậu sống. Sự biểu hiện mạnh mẽ ấy còn kích hoạt sự gia tăng hàm lượng PABA, tiền chất khác của folate. Điều này do một cơ chế đặc biệt có tính chất độc lập, vẫn chưa được biết rõ.

Genome cá trích (herring) là bài học giúp người ta hiểu được làm thế nào loài này thích nghi với môi trường

 


Các nhà khoa học thuộc ĐH Uppsala cùng với các đồng nghiệp của họ thông báo họ đã giải trình tự toàn bộ genome cá trích (Clupea harengus) vùng biển Atlantic và Baltic với hàng trăm loci đánh dấu tính thích nghi của cá với Biển Đen nước lợ (Baltic Sea) hoặc thích nghi với thời kỳ sinh dục. Nghiên cứu mới mẽ này cho thấy cá trích vùng biển Atlantic, một trong những quần thể cá đông dân nhất trên thế giới và là nguồn lương thực thiết yếu cho Bắc Âu, chúng là động vật mô hình để nghiên cứu về gen th1ich nghi với sự thay đổi sinh thái. Trước hết, chúng rất thích nghi với môi trường và tỏ ra vô cùng đa dạng về thời gian đẻ trứng (spawning time). Thứ hai, qui mô quần thể đàn cá vô cùng khổng lồ. Các nhà khọc đã giải trình tự toàn bộ genome cá trích vùng biển Atlantic và Baltic. Họ ghi nhận hàng trăm vị trí trên genome liên quan đến yếu tố thích ứng với vùng biển Baltic. Ngjie6n cứu còn xác định một số gen kiểm soát được sự đẻ trứng bằng cách so sánh loài cá trích đẻ trứng vào mùa thu với loài cá trích đẻ vào mùa xuân. Đây là ghi nhận rất quan trọng bởi vì quần thể tự nhiên của bầy cá phải chuẩn mực theo thời gian chúng giao phối và sinh đẻ để tối đa hóa đàn cá non. Đây là minh chứng cho thấy làm thế nào thay đổi những gen mã hóa protein và tính chất linh hoạt của DNA trong điều tiết sự thể hiện gen cả nội dung đóng góp và nội dung thích nghi.

Phát triển công nghệ mới tìm kiếm gen mong muốn trên cây lúa mì

 


Các nhà khoa học thuộc John Innes Centre (JIC), Anh Quốc và Sainsbury Laboratory (TSL) tiên phong nghiên cứu một công nghệ mới tìm kiếm gen đích, nếu được triển khai một cách chính xác, công nghệ này có thể giúp chúng ta sáng tạo ra giống lúa mì mới ưu việt kháng bền vững với bệnh. Dr. Brande Wulff thuộc JIC và đồng nghiệp tại TSL đã phát triển công nghệ mới này với thuật ngữ là ‘MutRenSeq'. Công nghệ ấy xác định một cách chính xác vị trí của những gen kháng bệnh trong genome thực vật, và tiết kiệm nhiều thời gian để làm ra dòng vô tính DNA (clone) của gen như vậy trong cây lúa mì; thay vì từ 5 đến 10 năm, xuống còn 2 năm. Công ngệ này cho phép các nhà khoa học nhanh chóng định vị được các gen kháng của cây trồng, dòng hóa chúng, rồi sắp xếp đưa các gen kháng ấy vào trong một giống ưu việt. MutRenSeq là phương pháp có 3 công đoạn để nhận diện vị trí của các gen kháng trên cơ sở (1) sáng tạo ra những thể đột biến (mutants) từ những cây lúa mì nguyên thủy kháng bệnh và xác định cây thiếu tính kháng bệnh, (2) giải trình tự các genomes kể cả cây nguyên thủy kháng bệnh và cây không kháng bệnh, (3) so sánh những gen này với nhau trong cây đột biến và trong cây bình thường để phân định các đột biến chính xác có chức năng đối với sự kiện mất tính kháng. Bước một của công nghệMutRenSeq, nhóm của Dr. Wulff đã phân lập thành công một gen kháng rất nổi tiếng, đó là Sr33, trong một thời gian. Sau đó, nhóm này tiến hành dòng hóa (cloned) hai gen kháng bệnh rỉ sắt Sr22 và Sr45 mà chúng chưa hề được dòng hóa thành công trước đây. Xem John Innes Centre website

Tin cùng danh mục: